Chỉ đạo điều hành
Hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên và môi trường (18/09/2017 18:27:00)
Với tinh thần quyết tâm đổi mới, sáng tạo, quyết liệt, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát yêu cầu thực tiễn, Ban cán sự đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thống nhất ban hành Chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII.

Chương trình hành động nhằm quán triệt sâu sắc, thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện tốt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về tài nguyên và môi trường được nêu trong các Nghị quyết; đồng thời đề ra được những kế hoạch, nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý của Bộ, góp phần hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên và môi trường để giải phóng sức sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước.

Bên cạnh việc học tập, quán triệt, tuyên tuyền thực hiện có hiệu quả các nội dung của Nghị quyết, Bộ sẽ tập trung tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên và môi trường bảo đảm phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân. Cụ thể, Bộ sẽ tập trung chỉ đạo: (i) Hoàn thiện pháp luật về quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; nghiên cứu, ban hành cơ chế Nhà nước giao quyền khai thác tài nguyên cho các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường. (ii) Hình thành nguyên tắc, phương pháp, cơ chế định giá, lượng giá, hạch toán tài nguyên và môi trường phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống tài khoản quốc gia về tài nguyên và môi trường. (iii) Rà soát, đề xuất chuyển đổi các cơ chế quản lý mang tính mệnh lệnh hành chính, bao cấp kém hiệu quả trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sang cơ chế quản lý hiệu quả hơn dựa trên các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường kết hợp với đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng minh bạch và hiệu quả. (iv) Đẩy mạnh công tác dự báo xu thế biến động về tài nguyên và môi trường, cung - cầu, cạnh tranh, xung đột về tài nguyên và môi trường trên thế giới và tác động đến sự phát triển của nước ta để làm cơ sở xây dựng chiến lược, chính sách, cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hợp lý và hiệu quả. (v) Đa dạng hóa nguồn vốn, nâng hiệu quả đầu tư, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám trong điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường; hình thành cơ chế tài chính và đẩy mạnh xã hội hóa, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường theo cơ chế thị trường. (vi) Hoàn thiện các quy định kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá trên tất cả các lĩnh vực tài nguyên và môi trường. (vii) Thúc đẩy phát triển các đơn vị nghiên cứu, tư vấn, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ quản lý tài nguyên và môi trường, đáp ứng nhu cầu ưong nước, tiến tới mở rộng cung ứng dịch vụ ra nước ngoài. (viii) Thúc đẩy, phát triển các quỹ tài nguyên, quỹ tài chính hỗ trợ hoạt động quản lý tài nguyên và môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh sản xuất hàng hoá môi trường.

Đặc biệt, đối với các lĩnh vực quản lý chuyên ngành, các ưu tiên tập trung vào:

Lĩnh vực quản lý đất đai, tiếp tục tập trung hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai, khắc phục tối đa tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí, thất thoát ngân sách nhà nước trong lĩnh vực này.

Đổi mới, hoàn thiện các quy định, tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuế, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích tụ, tập trung đất đai để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn và nông nghiệp sản xuất hàng hoá quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn. Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan để bảo đảm quyền sử dụng đất thực sự là tài sản được chuyển nhượng, giao dịch, thế chấp cho các nghĩa vụ dân sự, kinh tế, để các tổ chức, cá nhân được thuê đất, giao đất lâu dài với quy mô phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về phát triển thị trường sơ cấp, thứ cấp về quyền sử dụng đất, kể cả đất nông nghiệp. Hoàn thiện các quy định về đăng ký và giao dịch tài sản là quyền sử dụng đất; xây dựng, cập nhật, thống nhất cơ sở dữ liệu về đất đai góp phần phát triển hệ thống đăng ký, giao dịch quyền tài sản minh bạch, liên thông, dễ tiếp cận.

Cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và công bằng. Bảo đảm minh bạch thông tin về thị trường quyền sử dụng đất. Xác định giá trị quyền sử dụng đất theo cơ chế thị trường thông qua đấu giá, đấu thầu các dự án có sử dụng đất, thỏa thuận mua bán trên thị trường; áp dụng phổ biến việc xác định giá trị quyền sử dụng đất thông qua các tổ chức thẩm định giá độc lập, chuyên nghiệp. Rà soát, điều chỉnh khung giá quyền sử dụng đất phù hợp với thị trường ở từng địa phương. Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công, đất quốc phòng; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước.

Lĩnh vực địa chất và khoáng sản tập trung rà soát, xây dựng và ban hành bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho công tác quản lý nhà nước về khoáng sản. Tiếp tục thực hiện tốt các Nghị quyết, Chiến lược, Chương trình, Chỉ thị, đề án, nhiệm vụ cấp Trung ương về địa chất và khoáng sản, trọng tâm là đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về địa chất và khoáng sản, ưu tiên điều tra địa chất khoáng sản biển, điều tra môi trường địa chất và tai biến địa chất, lập bản đồ địa chất khu vực, địa chất tai biến, địa chất môi trường, bản đồ chuyên đề phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh.

Nghiên cứu, rà soát, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khảo sát, thăm dò, cấp phép khai thác khoáng sản phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; thực hiện đấu giá quyền khai thác khoáng sản một số mỏ điển hình; khoanh định và công bó khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ để giao các địa phương quản lý theo hướng chặt chẽ; tiếp tục thực hiện việc cấp phép hoạt động khoáng sản đúng quy định của Luật Khoáng sản.

Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, xác định tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước. Định giá khoáng sản theo cơ chế thị trường; sử dụng các công cụ thuế tài nguyên, phí khai thác tài nguyên để điều tiết vĩ mô việc khai thác và sử dụng khoáng sản hiệu quả, tiết kiệm, giảm xuất khẩu thô, thúc đẩy chế biến sâu khoáng sản; xây dựng đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về địa chất, khoáng sản phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường.

Kiểm soát có hiệu quả sản lượng khai thác của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản; có biện pháp hiệu quả hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, kiên quyết xử lý việc cấp phép hoạt động khoáng sản không đúng quy định của pháp luật.

Lĩnh vực quản lý tài nguyên nước tiếp tục xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước, trọng tâm là xây dựng quy định về thu tiền cấp quyền khai thác sử dụng tài nguyên nước, hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật về quy hoạch, điều tra cơ bản, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, quy định về tích trữ nước, tiết kiệm nước, hạn chế khai thác, sử dụng nước theo từng cấp độ khan hiếm nước, thiếu nước.

Thực hiện đồng bộ chính sách ưu đãi đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; nghiên cứu đề xuất cơ chế chia sẻ lợi ích, trách nhiệm giữa các bên liên quan trong việc khai thác, bảo vệ tài nguyên nước trên các lưu vực sông trên cơ sở nguyên tắc người hưởng lợi từ tài nguyên nước phải trả tiền, người gây ô nhiễm phải khắc phục, bồi thường.

Thực hiện có hiệu quả cơ chế điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra nhằm giải quyết hài hòa, có hiệu quả, bền vững các vấn đề chung về tài nguyên nước giữa các bên liên quan, giữa thượng lưu, hạ lưu và giữa khai thác với bảo vệ. Thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột trong khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước trên phạm vi lưu vực sông. Tăng cường công tác dự báo, cảnh báo tài nguyên nước phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Lĩnh vực biển và hải đảo sẽ tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, làm cơ sở để đề xuất đối với Đảng, Nhà nước những chủ trương, chính sách lớn trong quản lý, khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế biển.

Nghiên cứu, rà soát, đổi mới các cơ chế quản lý hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh việc vận dụng các nguyên tăc của thị trường, áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; nghiên cứu tạo nguồn thu từ hoạt động trên biển và hải đảo để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực quản lý tổng hợp biển và hải đảo; xây dựng đề án thương mại hóa các thông tin, số liệu về tài nguyên và môi trường biển và hải đảo phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và Luật Biển Việt Nam. Xây dựng cơ chế, chính sách bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng họp lý, hiệu quả, bền vững theo chiến lược, quy hoạch, kể hoạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tổ chức điều tra, đánh giá chi tiết về tài nguyên và môi trường khu vực biển ven bờ, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm, nhạy cảm với môi trường. Huy động các nguồn lực, họp tác quốc tế để tiến hành các hoạt động điều tra tổng hợp về tài nguyên và môi trường vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề để phát hiện các nguồn tài nguyên mới. Lập bản đồ địa hình đáy biển và hải đảo chi tiết với tỷ lệ lớn đối với một số khu vực nhạy cảm, quan trọng đối với quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường.

Tăng cường tham gia các khuôn khổ hợp tác song phương, khu vực và đa phương về biển và đại dương, nhằm học hỏi kinh nghiệm về quản lý tổng họp biển và hải đảo và góp phần thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia.

Lĩnh vực môi trường tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học và các cam kết về môi trường trong các điều ước quốc tế, hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết; đẩy mạnh xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về môi trường, trong đó ưu tiên xây dựng, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với các loại phế liệu thuộc Phụ lục danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất ban hành kèm theo Quyết định số 73/2017/QĐ-TTg ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ.

Tổ chức triển khai có hiệu quả các Nghị quyết, Chiến lược, Chương trình, Kế hoạch, Đề án về bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền phê duyệt; trong đó, trọng tâm là tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện tổt các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm về bảo vệ môi trường đã được nêu tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường. .

Tăng cường năng lực thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của ngành môi trường; tăng cường năng lực ứng phó, xử lý sự cố môi trường, nhất là sự cố trên sông, trên biển; xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp, đền bù thiệt hại về môi trường.

Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam; nghiên cứu, xây dựng cơ chế huy động nguồn lực đầu tư bảo vệ môi trường, nhất là đầu tư thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải sinh hoạt trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “người hưởng lợi từ môi trường phải chi trả chi phí đầu tư bảo vệ môi trường”.

Lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu tiếp tục hoàn thiện các vàn bản hướng dẫn triển khai thi hành Luật Khỉ tượng Thủy văn; các nội dung liên quan đến khỉ tượng thủy văn trong Luật phòng, chống thiên tai; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí tượng thủy văn; các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật khí tượng thủy văn. Nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Biến đối khí hậu, cơ chế phối họp liên ngành, liên vùng, ưu tiên đối với đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây Nguyên, các vùng duyên hải.

Huy động nguồn lực thực hiện Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2030 và Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; triển khai có hiệu quả việc xã hội hóa các hoạt động khí tượng thủy văn, đặc biệt là công tác dự báo, cảnh báo và thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động quan trắc khí tượng, thủy văn, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia quan trắc, chia sẻ thông tin, số liệu khí tượng, thủy văn; rà soát, đổi mới cơ chế dự báo khí tượng, thuỷ văn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường;

Tiếp tục huy động nguồn lực từ quốc tế, doanh nghiệp để thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC), Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trường xanh giai đoạn 2016 - 2020. Tập trung nghiên cứu, đề xuất phương án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Thỏa thuận Paris 2015 về biến đổi khí hậu nhằm phát huy những kêt quả đã đạt được, tạo cơ sở cho việc huy động các nguồn lực quốc tế cho ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung.

Lĩnh vực đo đạc bản đồ và thông tin địa lý tập trung tổ chức triển khai, hướng dẫn thi hành Luật Đo đạc và Bản đồ sau khi được Quốc hội thông qua; rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ đến năm 2030 theo hướng phù hợp với thực tiễn nước ta. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích ứng dụng, phát triển hoạt động viễn thám trong quản lý tài nguyên, giám sát môi trường, thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia (NSDI) nhằm khai thác, chia sẻ và sử dụng có hiệu quả thông tin dữ liệu hiện có tại các bộ, ngành, các địa phương phục vụ Chính phủ điện tử. Cập nhật kịp thời và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu nền địa lý của Việt Nam đáp ứng nhu cầu về quản lý lãnh thổ, biên giới quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường.

Xây dựng các sản phẩm đo đạc và bản đồ mới, phù hợp với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu của xã hội. Đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ đo đạc và bản đồ, tạo cơ chế hợp lý, bình đẳng cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong hoạt động đo đạc bản đồ.

Lĩnh vực viễn thám tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường công tác quản lý nhà nước về viễn thám; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ viễn thám, đưa công nghệ viễn thám thành một trong các công cụ chủ đạo trong công tác quản lý tài nguyên, giám sát môi trường, thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh - quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội, ứng dụng rộng rãi từ Trung ương đến địa phương.

Để thực hiện thành công các nhiệm vụ nêu trên, Chương trình hành động nhấn mạnh tới các giải pháp tiếp tục đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành gắn liền với công tác cải cách hành chính; đồng thời tập trung xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao năng lực xây dựng và thi hành pháp luật về tài nguyên và môi trường; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; tăng cường hợp tác quốc tế; nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng các nguồn lực; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra.


CÁC TIN LIÊN QUAN

LIÊN KẾT WEBSITE
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Số người đang truy cập: 11

Số người truy cập hôm nay: 7

Tổng số lượt truy cập: 186490